Dùng Ma Túy Trong Quán Karaoke, Ai Phải Chịu Trách Nhiệm?
Dùng ma túy trong quán karaoke là tình huống thường bị phát hiện khi lực lượng công an kiểm tra hành chính, đột kích cơ sở kinh doanh hoặc tiếp nhận tin báo từ người dân. Trong một phòng hát có nhiều người, không phải ai cũng chịu trách nhiệm giống nhau. Người trực tiếp sử dụng, người mang ma túy đến, người rủ rê, người chuẩn bị địa điểm, chủ quán, quản lý, nhân viên phục vụ… sẽ bị xem xét theo vai trò, hành vi và mức độ biết – tham gia – hỗ trợ.
Câu trả lời ngắn gọn là: không chỉ người sử dụng ma túy mới bị xử lý. Người tổ chức sử dụng, người chứa chấp, người tàng trữ/mua bán ma túy, người quản lý quán karaoke thiếu trách nhiệm hoặc biết rõ nhưng bao che, tiếp tay đều có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Theo Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 có khung cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù. Luật này cũng bổ sung Điều 256a về tội sử dụng trái phép chất ma túy trong một số trường hợp nhất định, với mức phạt tù từ 02 năm đến 03 năm và nếu tái phạm thì từ 03 năm đến 05 năm tù.
Tóm tắt nhanh
| Chủ thể | Trách nhiệm có thể phát sinh |
|---|---|
| Người trực tiếp sử dụng ma túy | Có thể bị xử phạt hành chính; trong trường hợp luật định có thể bị truy cứu hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy |
| Người rủ rê, điều hành, chuẩn bị ma túy, dụng cụ, địa điểm | Có thể bị xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy |
| Người cho mượn, cho thuê, bố trí phòng để dùng ma túy | Có thể bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy |
| Người mang ma túy vào quán | Có thể bị xử lý về tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái phép chất ma túy tùy chứng cứ |
| Chủ quán, quản lý karaoke | Không tự động chịu trách nhiệm hình sự, nhưng có thể bị xử phạt nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra ma túy; nếu biết rõ, bao che, tiếp tay thì có thể bị xử lý hình sự |
| Nhân viên phục vụ | Có thể bị xử lý nếu biết, hỗ trợ, gọi người, chuẩn bị dụng cụ, cảnh giới, bao che hoặc trực tiếp tham gia |
| Cơ sở kinh doanh karaoke | Có thể bị xử phạt, bị tước quyền sử dụng giấy phép/giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự hoặc bị thu hồi giấy phép tùy mức độ |
1. Dùng ma túy trong quán karaoke là hành vi gì?
Dùng ma túy trong quán karaoke là việc cá nhân sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát, khu vực kinh doanh hoặc khu vực do cơ sở karaoke quản lý. Hành vi này có thể đi kèm với nhiều hành vi khác như tàng trữ ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, rủ rê người khác cùng sử dụng, thuê phòng để “bay lắc”, phân công người canh cửa, báo động khi có công an kiểm tra hoặc thanh toán tiền ma túy theo nhóm.
Trong các vụ việc thực tế, cơ quan công an thường sẽ làm rõ:
- Ai là người mang ma túy đến;
- Ai là người mua ma túy;
- Ai chuẩn bị dụng cụ sử dụng;
- Ai thuê phòng hát;
- Ai rủ rê, gọi thêm người;
- Ai điều hành việc sử dụng;
- Chủ quán, quản lý, nhân viên có biết hay không;
- Có hành vi bao che, cảnh giới, khóa cửa, tắt camera, báo động không;
- Ma túy còn lại là bao nhiêu, thuộc loại gì;
- Có hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ hay không.
Do đó, trách nhiệm pháp lý không được xác định chỉ bằng việc “có mặt trong phòng hát”, mà phải dựa vào vai trò cụ thể của từng người.

2. Người trực tiếp sử dụng ma túy bị xử lý thế nào?
Người trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy trong quán karaoke trước hết có thể bị xử lý hành chính nếu chưa thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, đồng thời có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
Từ ngày Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025 có hiệu lực, người sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a nếu thuộc các trường hợp như: đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện; đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; hoặc đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế. Khung cơ bản là phạt tù từ 02 năm đến 03 năm; tái phạm thì phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Như vậy, người đi hát karaoke mà sử dụng ma túy không nên nghĩ rằng “chỉ bị phạt hành chính”. Trong một số trường hợp luật định, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử lý hình sự.
3. Người tổ chức sử dụng ma túy trong quán karaoke bị xử lý thế nào?
Người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nhóm có rủi ro hình sự rất cao. Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15, người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm ở khung cơ bản.
Trong bối cảnh quán karaoke, một người có thể bị xem xét về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nếu có các hành vi như:
- Rủ rê, lôi kéo nhiều người cùng sử dụng ma túy;
- Thuê phòng karaoke để làm nơi sử dụng ma túy;
- Mua hoặc chuẩn bị ma túy cho cả nhóm;
- Chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy;
- Điều hành việc sử dụng ma túy trong phòng hát;
- Gọi nhân viên, người phục vụ, người cảnh giới;
- Phân công người canh cửa, báo động khi có kiểm tra;
- Thu tiền của người tham gia để mua ma túy hoặc thuê địa điểm;
- Bố trí âm thanh, ánh sáng, phòng kín phục vụ việc sử dụng ma túy.
Không nhất thiết người tổ chức phải là chủ quán karaoke. Người thuê phòng, người cầm đầu nhóm bạn, người đặt ma túy, người thu tiền hoặc người điều hành buổi sử dụng ma túy đều có thể bị xem xét nếu có đủ căn cứ.
4. Chủ quán karaoke có phải chịu trách nhiệm không?
Chủ quán karaoke không tự động bị truy cứu hình sự chỉ vì khách sử dụng ma túy tại quán. Cơ quan chức năng sẽ xem xét chủ quán có biết, có tham gia, có bao che, có tiếp tay hoặc có thiếu trách nhiệm trong quản lý hay không.
Có thể chia thành 03 tình huống:
| Tình huống | Hướng xử lý |
|---|---|
| Chủ quán không biết, đã thực hiện quy định quản lý, khi phát hiện đã báo công an | Có cơ sở để chứng minh không bao che, không tiếp tay |
| Chủ quán thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để xảy ra việc sử dụng ma túy | Có thể bị xử phạt hành chính và bị tước giấy phép/giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự |
| Chủ quán biết rõ, cho thuê phòng, bao che, cảnh giới, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia | Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tổ chức, chứa chấp, che giấu hoặc không tố giác tội phạm tùy hành vi |
Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP, người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh karaoke nhưng thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân; tổ chức có thể bị phạt từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Hình thức bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 03 tháng đến 06 tháng, trừ trường hợp pháp luật có quy định về thu hồi.
Cơ quan Bộ Công an cũng cảnh báo rằng trường hợp chủ cơ sở, người quản lý hoặc nhân viên biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bao che, tiếp tay, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia thì tùy tính chất, mức độ có thể bị truy cứu hình sự về các tội như tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm.
5. Quản lý, nhân viên quán karaoke có bị xử lý không?
Có thể.
Trong nhiều vụ việc, nhân viên phục vụ, bảo vệ, lễ tân, quản lý ca hoặc nhân viên điều phòng có vai trò quan trọng. Cơ quan điều tra thường sẽ làm rõ nhân viên có biết khách dùng ma túy không, có hỗ trợ không, có nhận tiền để bao che không, có cảnh giới không, có chuẩn bị dụng cụ không.
Nhân viên quán karaoke có thể bị xử lý nếu có hành vi:
- Biết khách dùng ma túy nhưng vẫn phục vụ, không báo quản lý hoặc công an;
- Chuẩn bị đĩa, ống hút, bật lửa, nước, dụng cụ sử dụng ma túy;
- Giúp khách mua, nhận, cất giữ ma túy;
- Cảnh giới, báo động khi có lực lượng kiểm tra;
- Tắt camera, khóa cửa, dùng mật hiệu để che giấu;
- Gọi thêm người đến sử dụng ma túy;
- Nhận tiền để hỗ trợ việc sử dụng ma túy;
- Trực tiếp tham gia sử dụng hoặc tổ chức sử dụng.
Nếu chỉ là nhân viên bình thường, không biết khách sử dụng ma túy, không tham gia và không có nghĩa vụ quản lý trực tiếp, trách nhiệm sẽ khác. Tuy nhiên, khi đã biết rõ có hành vi phạm pháp mà vẫn hỗ trợ hoặc bao che, nhân viên có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm, giúp sức hoặc che giấu tội phạm.
6. Người mang ma túy vào quán bị xử lý tội gì?
Người mang ma túy vào quán karaoke có thể bị xử lý về các tội danh khác nhau tùy mục đích và chứng cứ.
Nếu người đó cất giữ ma túy để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy, có thể bị xem xét về tội tàng trữ trái phép chất ma túy khi đủ định lượng hoặc thuộc trường hợp luật định. Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025 đã sửa đổi nhóm tội về ma túy, trong đó tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung cơ bản từ 03 năm đến 05 năm tù đối với các trường hợp luật định.
Nếu người đó mang ma túy đến để bán cho người khác, có thể bị xem xét về tội mua bán trái phép chất ma túy. Nếu mang ma túy từ nơi này đến nơi khác theo sự phân công, có thể bị xem xét về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu vừa mang ma túy, vừa rủ rê, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và điều hành việc sử dụng, có thể bị xem xét thêm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Vì vậy, trong một vụ việc tại quán karaoke, một người không chỉ bị xử lý về một hành vi. Cơ quan điều tra sẽ căn cứ vào loại ma túy, khối lượng, lời khai, tin nhắn, camera, sao kê, vai trò từng người và các chứng cứ khác để xác định tội danh.
7. Trường hợp nào là chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy?
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thường đặt ra khi một người cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có hành vi khác tạo điều kiện cho người khác sử dụng ma túy, nhưng không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo Điều 256 Bộ luật Hình sự, người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm ở khung cơ bản; khung hình phạt có thể lên đến 15 năm tù trong trường hợp nghiêm trọng.
Trong bối cảnh karaoke, hành vi chứa chấp có thể được xem xét nếu:
- Biết khách thuê phòng để dùng ma túy nhưng vẫn cho thuê;
- Cố ý bố trí phòng kín, phòng riêng để khách sử dụng;
- Cho khách sử dụng nhiều giờ, tránh kiểm tra;
- Nhận tiền để bỏ qua hành vi dùng ma túy;
- Che giấu việc khách sử dụng ma túy;
- Không báo cơ quan chức năng dù biết rõ hành vi đang xảy ra.
Ranh giới giữa “chứa chấp” và “tổ chức” phụ thuộc vào mức độ tham gia. Nếu chỉ cho địa điểm hoặc tạo điều kiện để người khác sử dụng, có thể xem xét chứa chấp. Nếu trực tiếp chuẩn bị, điều hành, phân công, rủ rê, cung cấp ma túy hoặc dụng cụ, có thể bị xem xét theo hướng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
8. Khi nào quán karaoke bị xử phạt hành chính, tước giấy phép?
Quán karaoke là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phải bảo đảm điều kiện về an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ và các điều kiện kinh doanh khác. Nghị định 54/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 148/2024/NĐ-CP, quy định doanh nghiệp/hộ kinh doanh karaoke phải tuân thủ pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định pháp luật có liên quan; riêng karaoke không được hoạt động từ 0 giờ sáng đến 08 giờ sáng.
Cơ sở karaoke có thể bị xử phạt hành chính khi:
- Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra tàng trữ, mua bán, sử dụng ma túy;
- Không bảo đảm an ninh, trật tự;
- Không kiểm soát hoạt động tại phòng hát;
- Không báo cơ quan công an khi phát hiện dấu hiệu ma túy;
- Hoạt động quá giờ;
- Vi phạm điều kiện kinh doanh karaoke;
- Vi phạm điều kiện về phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự.
Về điều kiện kinh doanh karaoke, thủ tục hành chính cũng ghi nhận cơ sở phải là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, bảo đảm điều kiện phòng cháy chữa cháy và an ninh trật tự, phòng hát có diện tích sử dụng từ 20m² trở lên và không được đặt chốt cửa bên trong phòng hát hoặc thiết bị báo động, trừ thiết bị báo cháy nổ.
Nếu để xảy ra ma túy do thiếu trách nhiệm, người quản lý có thể bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; đối với tổ chức, mức phạt có thể từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, kèm hình thức tước quyền sử dụng giấy phép hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 03 tháng đến 06 tháng.
9. Phân biệt các tội danh thường gặp trong vụ ma túy tại karaoke
| Hành vi | Tội danh/hướng xử lý có thể đặt ra |
|---|---|
| Chỉ sử dụng ma túy, chưa thuộc trường hợp hình sự | Xử phạt hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy |
| Sử dụng ma túy trong các trường hợp Điều 256a | Tội sử dụng trái phép chất ma túy |
| Mua ma túy cho cả nhóm, chuẩn bị dụng cụ, điều hành | Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy |
| Cho thuê, cho mượn, bố trí địa điểm để dùng ma túy | Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy |
| Cất giữ ma túy trong người, túi, phòng hát | Tội tàng trữ trái phép chất ma túy nếu đủ căn cứ |
| Mang ma túy đến giao cho người khác | Có thể là vận chuyển hoặc mua bán trái phép chất ma túy |
| Bán ma túy cho khách trong quán | Tội mua bán trái phép chất ma túy |
| Biết có tội phạm nhưng che giấu | Có thể bị xem xét tội che giấu tội phạm |
| Biết rõ tội phạm nhưng không tố giác trong trường hợp luật định | Có thể bị xem xét tội không tố giác tội phạm |
Một vụ án ma túy trong quán karaoke thường không chỉ có một tội danh. Người này có thể bị xử lý về sử dụng; người khác bị xử lý về tổ chức; người khác bị xử lý về tàng trữ, mua bán hoặc chứa chấp. Chủ quán, quản lý và nhân viên sẽ bị xem xét riêng theo mức độ biết, tham gia, hỗ trợ hoặc buông lỏng quản lý.
10. Chủ quán cần làm gì khi phát hiện khách có dấu hiệu dùng ma túy?
Đối với chủ quán, người quản lý và nhân viên karaoke, việc xử lý đúng ngay từ đầu rất quan trọng để tránh bị xem là bao che hoặc tiếp tay.
10.1. Không tiếp tay, không che giấu
Không được chuẩn bị dụng cụ, gọi người, mua chất nghi ma túy, tắt camera, khóa cửa, báo động cho khách hoặc hướng dẫn khách phi tang. Những hành vi này có thể làm thay đổi bản chất vụ việc từ “khách tự sử dụng” sang “có dấu hiệu hỗ trợ, bao che hoặc tổ chức”.
10.2. Báo ngay cho người quản lý và cơ quan công an
Khi phát hiện khách có dấu hiệu sử dụng ma túy, cơ sở nên dừng phục vụ, bảo đảm an toàn, báo người quản lý và liên hệ cơ quan công an địa phương. Cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự có trách nhiệm phát hiện, báo kịp thời cho cơ quan công an về vụ việc hoặc nghi vấn liên quan đến an ninh trật tự trong quá trình kinh doanh.
10.3. Giữ nguyên hiện trường nếu an toàn
Không tự ý thu dọn vật dụng nghi liên quan đến ma túy, không để nhân viên cầm nắm, di chuyển tang vật nếu không cần thiết. Cần bảo vệ camera, lịch đặt phòng, hóa đơn, thông tin người thuê phòng, thông tin nhân viên phục vụ.
10.4. Lưu chứng cứ quản lý
Chủ quán nên lưu:
- Camera khu vực lễ tân, hành lang, lối ra vào;
- Thông tin khách đặt phòng;
- Thời gian nhận phòng, trả phòng;
- Hóa đơn, phiếu thanh toán;
- Danh sách nhân viên trong ca;
- Biên bản làm việc với công an;
- Nội quy phòng hát, quy trình kiểm soát an ninh;
- Tài liệu thể hiện việc đã báo cơ quan chức năng khi phát hiện.
10.5. Xây dựng quy trình phòng ngừa
Cơ sở karaoke nên có quy trình nhận biết và phòng ngừa ma túy, đào tạo nhân viên không tiếp tay, không nhận giữ đồ lạ, không cho khách khóa trái phòng, không tắt camera trái quy định, kiểm soát hoạt động quá giờ và phối hợp với công an địa phương khi có dấu hiệu bất thường.
11. Câu hỏi thường gặp
Dùng ma túy trong quán karaoke, ai phải chịu trách nhiệm?
Người trực tiếp sử dụng ma túy, người tổ chức, người mang ma túy, người chứa chấp, người mua bán/tàng trữ ma túy và chủ quán, quản lý, nhân viên nếu biết, hỗ trợ, bao che hoặc thiếu trách nhiệm đều có thể bị xem xét trách nhiệm. Mỗi người chịu trách nhiệm theo vai trò cụ thể.
Chủ quán karaoke có bị đi tù khi khách dùng ma túy không?
Không tự động bị đi tù chỉ vì khách dùng ma túy. Tuy nhiên, nếu chủ quán biết rõ, cho thuê phòng để sử dụng ma túy, bao che, cảnh giới, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia thì có thể bị truy cứu hình sự. Nếu chỉ thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra ma túy, chủ quán có thể bị xử phạt hành chính và bị tước giấy phép/giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự.
Người sử dụng ma túy lần đầu trong quán karaoke có bị đi tù không?
Không phải mọi trường hợp sử dụng ma túy lần đầu đều bị đi tù. Nếu chưa thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự, người sử dụng có thể bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, nếu thuộc các trường hợp của Điều 256a Bộ luật Hình sự như đang trong thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện hoặc các trường hợp luật định khác, có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm; tái phạm thì từ 03 năm đến 05 năm.
Người thuê phòng karaoke để cả nhóm dùng ma túy bị tội gì?
Người thuê phòng có thể bị xem xét về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nếu có hành vi rủ rê, chuẩn bị địa điểm, ma túy, dụng cụ, điều hành hoặc phân công người khác sử dụng. Khung cơ bản của tội này là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Nhân viên quán chỉ phục vụ nước có bị liên quan không?
Nếu nhân viên không biết khách dùng ma túy, không hỗ trợ, không cảnh giới, không chuẩn bị dụng cụ và không bao che thì trách nhiệm sẽ khác. Nhưng nếu biết rõ mà vẫn hỗ trợ, phục vụ theo yêu cầu sử dụng ma túy, cảnh giới hoặc báo động cho khách, nhân viên có thể bị xem xét trách nhiệm.
Quán karaoke để khách dùng ma túy bị phạt bao nhiêu?
Nếu người đứng đầu, người đại diện pháp luật hoặc người quản lý thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý, mức phạt đối với cá nhân là từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; đối với tổ chức là từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, kèm khả năng bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 03 tháng đến 06 tháng.
Trong phòng karaoke có ma túy nhưng có người không sử dụng thì có bị xử lý không?
Không thể chỉ dựa vào việc có mặt trong phòng để kết luận có tội. Cơ quan chức năng sẽ xem xét kết quả xét nghiệm, lời khai, camera, vật chứng, hành vi cụ thể và vai trò của từng người. Người không sử dụng nhưng có hành vi tổ chức, chứa chấp, cảnh giới hoặc hỗ trợ vẫn có thể bị xử lý theo hành vi tương ứng.
Người mang ma túy đến quán nhưng chưa kịp dùng có bị xử lý không?
Có thể. Nếu có hành vi cất giữ, vận chuyển hoặc mua bán ma túy thì dù chưa sử dụng vẫn có thể bị xử lý về tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái phép chất ma túy, tùy khối lượng, loại ma túy, mục đích và chứng cứ.
12. Kết luận
Dùng ma túy trong quán karaoke là hành vi có rủi ro pháp lý rất nghiêm trọng. Người trực tiếp sử dụng có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu hình sự trong trường hợp luật định. Người tổ chức, rủ rê, chuẩn bị địa điểm, ma túy, dụng cụ hoặc điều hành việc sử dụng có thể bị xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Người cho thuê, cho mượn, bố trí địa điểm để người khác dùng ma túy có thể bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Chủ quán, quản lý, nhân viên karaoke không mặc nhiên chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì khách sử dụng ma túy, nhưng sẽ bị xem xét nếu thiếu trách nhiệm trong quản lý, biết mà không ngăn chặn, bao che, cảnh giới, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia. Trường hợp chưa đến mức hình sự, cơ sở kinh doanh vẫn có thể bị xử phạt hành chính, tước giấy phép hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý khác theo quy định.
Đối với cơ sở karaoke, nguyên tắc an toàn là: không tiếp tay, không bao che, không vì doanh thu mà bỏ qua dấu hiệu ma túy; phải có quy trình kiểm soát, đào tạo nhân viên, lưu camera, quản lý phòng hát và báo ngay cơ quan công an khi phát hiện dấu hiệu vi phạm.
Cần tư vấn vụ việc ma túy trong quán karaoke?
Luật Bright Legal hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc hình sự, ma túy và kinh doanh karaoke, bao gồm:
- Tư vấn dùng ma túy trong quán karaoke ai phải chịu trách nhiệm;
- Phân tích vai trò của khách, chủ quán, quản lý, nhân viên;
- Tư vấn tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;
- Tư vấn tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy;
- Tư vấn trường hợp bị xử phạt hành chính, tước giấy phép kinh doanh;
- Hỗ trợ người bị mời làm việc, người bị tạm giữ, bị khởi tố;
- Soạn bản tường trình, đơn trình báo, đơn kiến nghị, đơn xin bảo lãnh;
- Luật sư bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án hình sự về ma túy.
Luật Bright Legal – Khách hàng là trọng tâm
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
- Nghị định số 282/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình;
- Nghị định số 54/2019/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường;
- Nghị định số 148/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 54/2019/NĐ-CP;
- Nghị định số 96/2016/NĐ-CP và Nghị định số 56/2023/NĐ-CP về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
- Các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Nội dung bài viết chỉ có giá trị tham khảo, được xây dựng trên cơ sở quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Việc xác định ai phải chịu trách nhiệm trong vụ dùng ma túy tại quán karaoke phụ thuộc vào chứng cứ cụ thể như kết quả xét nghiệm, vật chứng thu giữ, lời khai, camera, tin nhắn, vai trò từng người, mức độ biết – tham gia – hỗ trợ – bao che và đánh giá của cơ quan có thẩm quyền. Người đọc nên tham khảo ý kiến luật sư trước khi làm việc với cơ quan điều tra hoặc ký bất kỳ bản tường trình, biên bản nào.

