Có.

Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: nếu vợ hoặc chồng của người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Tuy nhiên, cần lưu ý: một người bỏ đi, không liên lạc được chưa đương nhiên được coi là “người mất tích” theo pháp luật. Muốn áp dụng trường hợp này, thông thường trước tiên phải yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất tích.


1. Bao lâu không có tin tức thì được yêu cầu tuyên bố mất tích?

Theo Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, một người có thể bị Tòa án tuyên bố mất tích khi:

  • Đã biệt tích 02 năm liền trở lên;
  • Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định;
  • Vẫn không có tin tức xác thực người đó còn sống hay đã chết.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Nếu không xác định được ngày cụ thể thì thời điểm tính được xác định theo nguyên tắc tại Điều 68 Bộ luật Dân sự.

Ví dụ:

Người chồng bỏ nhà đi từ tháng 5/2023, từ đó gia đình hoàn toàn không có thông tin và đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả.

Sau khi đáp ứng thời gian và điều kiện luật định, người vợ có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích.


2. Mất liên lạc vài tháng có được coi là mất tích không?

Chưa.

Cần phân biệt:

Tình trạng Ý nghĩa pháp lý
Không liên lạc được vài tuần, vài tháng Chưa đủ điều kiện tuyên bố mất tích
Bỏ đi nhưng vẫn có thông tin còn sống Thông thường chưa phải trường hợp mất tích
Biệt tích từ đủ 02 năm và không có tin tức xác thực Có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích
Đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích Có thể yêu cầu ly hôn theo khoản 2 Điều 56

Do đó, không nên chỉ dựa vào việc vợ/chồng “bỏ nhà đi” để kết luận đã đủ điều kiện ly hôn theo diện người mất tích.


3. Thủ tục ly hôn với người mất tích thực hiện thế nào?

Thông thường gồm 02 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích

Người yêu cầu cần cung cấp tài liệu chứng minh:

  • Người kia đã biệt tích từ đủ 02 năm;
  • Không có tin tức xác thực về việc còn sống hay đã chết;
  • Đã thực hiện việc tìm kiếm theo quy định;
  • Nơi cư trú cuối cùng của người mất tích.

Sau khi thụ lý, Tòa án thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.

Giai đoạn 2: Yêu cầu ly hôn

Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng mất tích, người còn lại có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn.

Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là căn cứ trực tiếp để Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Thực tiễn năm 2026 cũng có vụ án trong đó người chồng đã có quyết định tuyên bố vợ mất tích, sau đó khởi kiện ly hôn và được Tòa án chấp nhận yêu cầu.


4. Có bắt buộc phải chờ đủ 02 năm mới được ly hôn không?

Không phải mọi trường hợp vợ/chồng bỏ đi đều bắt buộc phải chờ 02 năm mới có thể đặt vấn đề ly hôn.

Mốc 02 năm là điều kiện để yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự.

Nếu vẫn xác định được địa chỉ hoặc có thông tin về người kia, nhưng họ bỏ nhà đi, không chung sống và quan hệ hôn nhân đã trầm trọng thì có thể xem xét ly hôn đơn phương theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, nếu hoàn toàn không xác định được tung tích của vợ/chồng, việc yêu cầu tuyên bố mất tích trước thường là hướng pháp lý rõ ràng hơn.


5. Hồ sơ cần chuẩn bị gồm những gì?

Đối với yêu cầu tuyên bố mất tích, nên chuẩn bị:

  • Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích;
  • Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu;
  • Giấy chứng nhận kết hôn;
  • Tài liệu về nơi cư trú cuối cùng của người mất tích;
  • Chứng cứ thể hiện thời điểm có tin tức cuối cùng;
  • Tài liệu chứng minh đã tìm kiếm nhưng không có kết quả.

Sau khi có quyết định tuyên bố mất tích, hồ sơ ly hôn thường cần:

  • Đơn khởi kiện ly hôn;
  • Giấy chứng nhận kết hôn;
  • Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án;
  • Giấy tờ về con chung;
  • Tài liệu về tài sản, nghĩa vụ chung nếu có yêu cầu giải quyết.

6. Có con chung thì giải quyết thế nào?

Việc một bên bị tuyên bố mất tích không làm mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề con chung.

Tòa án vẫn xem xét:

  • Người trực tiếp nuôi con;
  • Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng;
  • Nguyện vọng của con trong trường hợp pháp luật yêu cầu xem xét;
  • Quyền lợi về mọi mặt của trẻ.

Trong thực tế, nếu một bên đã mất tích trong thời gian dài và không trực tiếp chăm sóc con thì đây là tình tiết quan trọng khi Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con.


7. Tài sản chung xử lý thế nào?

Người yêu cầu ly hôn có thể yêu cầu giải quyết tài sản chung nếu có tranh chấp.

Tuy nhiên, vì một bên đang mất tích nên việc xác định nguồn gốc, giá trị và quyền đối với tài sản có thể phức tạp hơn.

Bộ luật Dân sự cũng quy định cơ chế quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nhằm bảo vệ quyền lợi của họ. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, tài sản của người mất tích được giao cho người có trách nhiệm quản lý theo thứ tự luật định.

Vì vậy, nếu có nhà đất, tiền gửi hoặc tài sản giá trị lớn thì nên kê khai và cung cấp đầy đủ chứng cứ ngay khi yêu cầu Tòa án giải quyết.


8. Người mất tích quay về sau khi đã ly hôn thì sao?

Quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực.

Điều 70 Bộ luật Dân sự quy định: nếu người bị tuyên bố mất tích trở về, Tòa án có thể hủy quyết định tuyên bố mất tích.

Tuy nhiên, nếu vợ hoặc chồng của người đó đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Do đó, quan hệ hôn nhân không tự động được khôi phục chỉ vì người mất tích quay trở về.


9. Checklist khi muốn ly hôn với người mất tích

Trước khi thực hiện thủ tục, nên xác định:

  1. Người kia đã biệt tích bao lâu;
  2. Thời điểm có tin tức cuối cùng là khi nào;
  3. Đã tìm kiếm bằng những cách nào;
  4. Có xác định được nơi cư trú cuối cùng không;
  5. Đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích chưa;
  6. Có con chung cần giải quyết không;
  7. Có tài sản hoặc nợ chung cần Tòa án giải quyết không.

Việc chuẩn bị đầy đủ các thông tin trên giúp xác định nên khởi kiện ly hôn trực tiếp hay trước tiên phải thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích.


10. Kết luận

Chồng hoặc vợ mất tích, người còn lại có quyền yêu cầu ly hôn.

Nếu người kia đã biệt tích từ đủ 02 năm, đã được tìm kiếm theo quy định nhưng không có tin tức xác thực, người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích.

Sau khi có quyết định tuyên bố mất tích, vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm quan trọng là phải phân biệt “không liên lạc được” với “đã bị Tòa án tuyên bố mất tích” để lựa chọn đúng thủ tục.


Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn;
  • Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo yêu cầu của một bên;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 68 Bộ luật Dân sự về tuyên bố một người mất tích;
  • Điều 69 Bộ luật Dân sự về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích;
  • Điều 70 Bộ luật Dân sự về hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích;
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung;
  • Điều 387, Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
Xin chào ! Hãy liên lạc với
Luật BRL